Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội rộng gần 200 ha, vốn dự kiến 25.000 tỷ đồng
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội được định hướng trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao, trong đó ưu tiên lĩnh vực công nghệ sinh học. Dự án có quy mô khoảng 199,03 ha, sơ bộ tổng mức đầu tư 25.000 tỷ đồng và tiến độ thực hiện dự kiến từ năm 2026 đến 2030.
Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, đồng thời Hà Nội đã phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000, tạo cơ sở để triển khai các bước tiếp theo.
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội quy mô 199,03 ha, vốn 25.000 tỷ đồng
Theo thông tin trên Cổng Đầu tư Hà Nội, dự án có tên Khu công nghệ cao sinh học Bắc Từ Liêm, với địa điểm hiện được cập nhật tại phường Thượng Cát.
Dự án có quy mô khoảng 199,03 ha, sơ bộ tổng mức đầu tư 25.000 tỷ đồng và hình thức đầu tư là đầu tư kinh doanh.
Mục tiêu của dự án là đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội. Qua đó, tạo quỹ hạ tầng để thu hút các dự án công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển công nghệ cao và định hướng của Việt Nam.
Trong đó, công nghệ sinh học là lĩnh vực được ưu tiên.
Cổng Đầu tư Hà Nội hiện ghi nhận tiến độ thực hiện dự kiến của dự án trong giai đoạn 2026–2030.
Vị trí Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 1054/QĐ-TTg ngày 29/9/2024.
Theo quyết định thành lập, khu công nghệ cao có quy mô 199,03 ha, thuộc địa bàn các phường Tây Tựu, Liên Mạc, Minh Khai, Thụy Phương và Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Sau khi Hà Nội thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Cổng Đầu tư Hà Nội hiện cập nhật địa điểm dự án tại phường Thượng Cát.
Đây là khu vực nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội, có kết nối với các tuyến giao thông quan trọng của khu vực Bắc Từ Liêm và hành lang phát triển phía Tây thành phố.
Quy hoạch phân khu Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội
Ngày 4/6/2025, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 2788/QĐ-UBND, phê duyệt đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội, tỷ lệ 1/2000.
Theo đồ án, khu vực quy hoạch có phía Bắc giáp các tuyến đường quy hoạch rộng 40 m và Khu công nghiệp Nam Thăng Long; phía Tây giáp tuyến đường quy hoạch rộng 40 m.
Phía Đông giáp các tuyến đường quy hoạch rộng 25 m và 40 m. Phía Nam giáp tuyến đường trục Tây Thăng Long rộng 60,5 m.
Đồ án được lập nhằm cụ thể hóa định hướng của các quy hoạch lớn của Hà Nội. Đồng thời, tạo cơ sở để tổ chức không gian chức năng, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ trong khu công nghệ cao.
Không gian phát triển ưu tiên công nghệ sinh học
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội không chỉ hướng tới phát triển hạ tầng kỹ thuật mà còn được định hướng hình thành hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao.
Theo Quy chế hoạt động được ban hành tại Quyết định 607/QĐ-TTg ngày 14/3/2025, khu công nghệ cao hướng tới thu hút các dự án nghiên cứu và phát triển, ứng dụng, sản xuất sản phẩm, giáo dục, đào tạo, ươm tạo và cung ứng dịch vụ công nghệ cao.
Trong đó, lĩnh vực công nghệ sinh học được xác định là hướng ưu tiên.
Quy chế cũng đặt mục tiêu thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học đầu tư nghiên cứu, phát triển, sản xuất và chuyển giao công nghệ.
Hạ tầng được định hướng đồng bộ, hiện đại
Theo Quy chế hoạt động, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của khu công nghệ cao được định hướng phát triển đồng bộ, hiện đại và thân thiện với môi trường.
Thiết kế quy hoạch, kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng nhu cầu hoạt động của khu công nghệ cao, đồng thời định hướng theo tiêu chuẩn đô thị thông minh.
Đây cũng là một trong những điểm đáng chú ý của dự án khi khu công nghệ cao không chỉ được quy hoạch cho hoạt động sản xuất mà còn bao gồm các không gian phục vụ nghiên cứu, đào tạo, ươm tạo và cung ứng dịch vụ công nghệ cao.
Các phân khu chức năng trong Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội
Đồ án quy hoạch phân khu xác định cơ cấu sử dụng đất và các khu chức năng phù hợp với tính chất của một khu công nghệ cao.
Các nhóm chức năng được định hướng gồm khu vực phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, giáo dục, đào tạo và ươm tạo công nghệ cao.
Các khu chức năng được tổ chức kết hợp với hệ thống cây xanh, cảnh quan và các công trình phục vụ nhu cầu hoạt động của khu công nghệ cao.
Việc bố trí các chức năng này nhằm hình thành một không gian tương đối hoàn chỉnh, trong đó hoạt động nghiên cứu, đào tạo, sản xuất và chuyển giao công nghệ có thể được kết nối trong cùng một khu vực.
Chỉ tiêu quy hoạch và kiến trúc
Theo đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000, khu vực có mật độ xây dựng gộp tối đa 30%.
Tầng cao công trình được quy hoạch từ 1 đến 8 tầng đối với các khu vực thông thường. Một số công trình điểm nhấn kết nối từ trục đường Tây Thăng Long đến khu công viên trung tâm có tầng cao từ 1 tầng đến tối đa 25 tầng.
Các chỉ tiêu sử dụng đất được xác định theo từng ô quy hoạch nhằm kiểm soát quá trình phát triển không gian và đảm bảo sự đồng bộ giữa các khu chức năng.
Tiến độ thực hiện dự kiến 2026–2030
Cổng Đầu tư Hà Nội hiện cập nhật tiến độ thực hiện dự kiến của Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội là giai đoạn 2026–2030.
Đây là mốc tiến độ được công bố trên hệ thống thông tin đầu tư của thành phố. Các mốc triển khai cụ thể của từng hạng mục cần tiếp tục được cập nhật theo quá trình thực hiện dự án.
Hiện Cổng Đầu tư Hà Nội ghi nhận dự án với sơ bộ tổng mức đầu tư 25.000 tỷ đồng và hình thức đầu tư là đầu tư kinh doanh.
Đồng thời, thông tin dự án cho biết UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 4181/QĐ-UBND ngày 8/8/2025 về việc chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư lần thứ nhất.
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội hướng tới trung tâm công nghệ sinh học khu vực
Theo Quy chế hoạt động, Hà Nội định hướng phát triển Khu công nghệ cao sinh học thành một trung tâm có quy mô và năng lực cạnh tranh trong khu vực về công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
Mục tiêu không chỉ là thu hút các dự án đầu tư mà còn tạo môi trường cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ.
Khi được đầu tư đồng bộ, khu công nghệ cao có thể trở thành một không gian tập trung các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, sản xuất và cung ứng dịch vụ liên quan đến công nghệ sinh học.
Đây cũng là cơ sở để Hà Nội từng bước hình thành hệ sinh thái công nghệ cao gắn với nguồn nhân lực chất lượng cao và các hoạt động đổi mới sáng tạo.
Dự án 25.000 tỷ đồng đang được triển khai theo định hướng dài hạn
Với quy mô gần 200 ha và tổng mức đầu tư sơ bộ 25.000 tỷ đồng, Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội là một dự án quy mô lớn trong nhóm khoa học và công nghệ của Thủ đô.
Dự án đã có cơ sở pháp lý quan trọng gồm quyết định thành lập Khu công nghệ cao, quy chế hoạt động và đồ án quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000.
Trong thời gian tới, tiến độ triển khai hạ tầng, các bước đầu tư và việc thu hút các dự án công nghệ cao sẽ là những nội dung đáng chú ý.
Kết luận
Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội có quy mô khoảng 199,03 ha, sơ bộ tổng mức đầu tư 25.000 tỷ đồng, tiến độ thực hiện dự kiến 2026–2030. Dự án được định hướng ưu tiên phát triển công nghệ sinh học, cùng các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, ươm tạo, sản xuất và chuyển giao công nghệ cao.
Với việc đã được thành lập và phê duyệt quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000, dự án đang có những cơ sở quan trọng để tiếp tục triển khai các bước đầu tư và phát triển hạ tầng trong giai đoạn tới.
Quyhoach24h.vn sẽ tiếp tục cập nhật thông tin về quy hoạch, hạ tầng giao thông và các dự án đô thị tại Hà Nội. Qua đó, giúp người dân và nhà đầu tư theo dõi những thay đổi mới trong không gian phát triển của khu vực.
Nguồn thông tin
- Cổng Đầu tư Hà Nội – Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội
- UBND thành phố Hà Nội – Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghệ cao Sinh học Hà Nội
- Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp Hà Nội – Quy chế hoạt động
- Quyết định 1054/QĐ-TTg về thành lập Khu Công nghệ cao sinh học Hà Nội
- Quyết định 607/QĐ-TTg về Quy chế hoạt động Khu Công nghệ cao sinh học Hà Nội
- Quyết định 2788/QĐ-UBND – Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000

